''

Ngày 17 tháng 11 năm 2018

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tin tức

Tin tức

Cập nhật lúc : 08:48 06/11/2018  

Hoạt động ngoại khóa: Tổ Sử-Địa-GDCD tổ chức tìm hiểu di tích Nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Hồ và di tích lịch sử triều Nguyễn năm học 2018-2019

Thực hiện kế hoạch của trường THPT Vinh Xuân và Tổ Sử-Địa-GDCD trường THPT Vinh Xuân đã tổ chức hoạt động ngoại khóa tổ chức cho cán bộ, giáo viên và học sinh ưu tú tham quan học tập tại Nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Hồ và di tích lịch sử triều Nguyễn và tổ chức các trò chơi ở lăng vua Gia Long. Tham dự có thầy Đoàn Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng; thầy Nguyễn Công Phố, Tổ trưởng chuyên môn cùng các thầy cô giáo trong BTV Đoàn trường, Tổ Sử-Địa-GDCD và những học sinh tiêu biểu lớp l12.

1. Nhà lưu niệm Bác Hồ nằm trong cụm di tích lưu niệm về Người ở làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với đình làng, Am Bà, Bến Đá, ngôi nhà đã góp phần tái hiện lại cuộc sống của Người và gia đình ở một làng quê Thừa Thiên Huế những năm cuối thế kỷ XIX.

 

 

Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự kỳ thi hội lần thứ hai khoa Mậu Tuất vẫn không đỗ. Sự nghiệp văn chương, thi cử của ông càng gian gian lận đận. Sau lần thi trượt này, ông Sắc không được hưởng học bổng của trường Quốc Tử Giám nữa, cuộc sống gia đình gặp nhiều khó khăn. Trước tình cảnh đó, bà Hoàng Thị Loan – một người vợ mẫu mực, thuỷ chung đã cùng chồng bàn bạc để vượt qua khó khăn đợi kỳ thi sau .Lúc đó ông Nguyễn Viết Chuyên, nhân viên bộ Hình đã giới thiệu ông Nguyễn Sinh Sắc về Dương Nỗ dạy học trong nhà ông Nguyễn Sĩ Độ. Ông mang theo hai con trai là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung để trực tiếp dạy dỗ, đỡ gánh nặng kinh tế, khó khăn cho gia đình, đồng thời để có thêm điều kiện ôn bài chuẩn bị kỳ thi Hội lần thứ 3.

Lúc này bà Loan vẫn ở lại một mình trong ngôi nhà Thành Nội (112- Mai Thúc Loan- Thành Nội Huế)

 

Ông Sắc được gia đình ông Độ giao cho một ngôi nhà tranh 3 gian 2 chái, vách ghép ván để làm lớp học và làm chỗ ở của ông và hai con. Đồ đạc trong nhà được bày trí đẹp mắt, tiện lợi mang dáng dấp ngôi nhà của một của một ông đồ nho xứ Nghệ. Gian giữa đặt án thờ để thờ nhạc mẫu của ông Độ. Phía trước kê một bộ phản gỗ gõ là nơi ông Sắc ngồi dạy học, một án thư ông Sắc để sách vỡ, nghiêng mực, bút, ôn bài vở tiếp tục cuộc đời sự nghiệp của ông, và một vài gối tỳ tay dùng để tỳ tay khi đàm đạo. Lớp học không có bàn ghế; hai bộ phản gỗ gõ kê ở hai gian bên để học trò ngồi học. Ở góc trong gian bên trái kế gian giữa có kê một giường gỗ gõ dát tre là nơi Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung thường nằm.

 

Góc trong gian bên phải cạnh gian giữa kê một rương gỗ gõ đựng đồ dùng của ông Sắc. Hai chái hai đầu nhà là hai buồng, buồng bên trái để cất quần áo sinh hoạt cho ông Sắc và hai con, có trỗ cửa sỗ và treo rèm, buồng bên phải là nơi cất gạo và thực phẩm. Nối với nhà chính là ngôi nhà ngang (mái lợp tranh) ba gian, vách bằng tre trái đất được sử dụng làm bếp sinh hoạt của gia đình. Hàng ngày, ông Sắc thường gọi hai anh em Khiêm, Cung dậy sớm ôn bài, quét dọn nhà cửa, sân vườn sạch sẽ ngăn nắp, gọn gàng. Không khí nơi đây thật thoáng mát trong lành, vườn nhà hoa trái bốn mùa xanh tươi.

Khiêm rất quý trọng em mình và Cung rất kính nể anh. Từ việc học, chơi, đến việc ăn, việc ngủ hai anh em luôn gắn bó như hình với bóng, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau.

Nội dung và chương trình giảng dạy của ông Sắc bao gồm thơ phú, tứ thư, ngũ kinh. Gia đình ông Độ nuôi cơm thầy hoàn toàn. Đối với học trò ông không thu học phí. Đáp lại, gia đình học trò, với tấm lòng tôn sư trọng đạo kính trọng và biết ơn thầy, nên vào ngày mùa, lễ tết thường đem gạo, nếp, hoa quả …tới biếu thầy.

Học trò của ông Sắc lúc bấy giờ có hai lớp (lớp học trò lớn chuẩn bị thi Hương và lớp học trò mới vào học vỡ lòng).

Tại ngôi nhà đơn sơ mộc mạc này, ông Sắc đã dạy cho Nguyễn Sinh Cung bắt đầu học chữ Hán, góp phần mở ra nhãn quan mới về nhận thức của Nguyễn Sinh Cung. Ông Sắc giao Nguyễn Sinh Cung cho Nguyễn Sĩ Khuyến kèm học.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, nên trò Cung cũng rất thông minh, mới học viết hàng tư sách Luận ngữ (một tập 08 tờ,một tờ 16 hàng), chỉ học vài ba lần là Cung có thể xếp sách lại đọc vanh vách. Có lần trò Khuyến hỏi Nguyễn Sinh Cung:

- Cậu đi mô đó?

- Đi chơi (Nguyễn Sinh Cung trả lời)

- Thuộc bài chưa mà đi chơi?

- Thuộc chứ! nói rồi Nguyễn Sinh Cung đọc một mạch bài học cũ cho trò Khuyến nghe từ đầu đến cuối.

 

Làng Dương Nỗ đã ghi lại những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên của Nguyễn Sinh Cung, lúc học tập, vui chơi, nô đùa ở Đình làng, Am bà, khi vùng vẫy trên sông phổ lợi với bạn bè. Chính nơi đây hàng ngày Nguyễn Sinh Cung đã chứng kiến tinh thần lao động cần cù, tình làng nghĩa xóm của những người dân quê mộc mạc. Đó là nhân tố góp phần tạo nên tình yêu quê hương đất nước sâu nặng của Nguyễn Sinh Cung – Nguyễn Tất thành – Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Đáp ứng tình cảm, và nguyện vọng đông đảo nhân dân địa phương, sau này đất nước thống nhất, lãnh đạo tỉnh Bình Trị Thiên (cũ ) đã tiến hành trùng tu di tích này vào năm 1978. Qua nhiều lần tôn tạo, ngôi nhà trở lại gần như nguyên vẹn của thuở ban đầu.
 

Với ý nghĩa riêng vốn có, ngôi nhà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá ngày 27/3/1990 và là một di tích trọng tâm trong cụm di tích lưu niệm Bác Hồ ở làng Dương Nỗ.

 

2. Lăng vua Gia Long ở xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, là lăng xa nhất trong cụm lăng các vua triều Nguyễn Huế.

   

 

Tên gọi lăng Gia Long hiện nay thực ra là để chỉ cả một quần thể lăng tẩm của nhiều người trong hàng quyến thuộc của nhà vua, với trọng địa là khu lăng mộ của vua Gia Long và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.

Quá trình xây dựng lăng diễn ra trong 6 năm (1814-1820), bắt đầu từ thời điểm bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (chính phi của vua Gia Long) qua đời vào ngày 21-2-1814. Nhà vua đã sai các quan trong Khâm Thiên Giám đi chọn đất để mai táng vợ mình. Về sau phát triển thành một khu lăng mộ rộng lớn với chu vi đến 11.234,40m (tài liệu của L. Cadière), gồm những lăng sau:

- Lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Thái (Trăn).

- Lăng Vĩnh Mậu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu, vợ chúa Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái (Trăn) (1650-1725).

- Lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Thụ (Chú) (1697-1738).

- Lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu (1738-1811), vợ thứ hai của Nguyễn Phúc Côn (Luân) và là thân mẫu của vua Gia Long.

- Lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công chúa Long Thành, chị ruột vua Gia Long.

- Lăng Thiên Thọ của vua Gia Long và vợ ông.

- Lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, vợ thứ hai của vua Gia Long, mẹ vua Minh Mạng.

 

Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi núi lớn nhỏ có tên gọi riêng, trong đó Đại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và được dùng để gọi tên chung cho cả quần sơn này: Thiên Thọ Sơn. Tất cả đều được quy hoạch trong khu vực quan phòng rộng hơn 28 km2, tạo thành một cảnh quan hùng tráng chạy dài từ chân dãy Trường Sơn đến bờ Tả Trạch - một hợp lưu của Hương Giang. Đích thân vua Gia Long đã thám sát, duyệt định vị trí, quy hoạch và chỉ đạo công tác thiết kế cũng như giám sát tiến độ thi công. Sử cũ cho hay, thầy Địa lý Lê Duy Thanh (con trai nhà bác học Lê Quý Đôn) là người tìm được thế đất này, nơi mà theo ông “đã tập trung được mọi ảnh hưởng tốt lành tỏa ra từ nhiều núi đồi bao quanh”, nơi mà “ảnh hưởng tốt lành sẽ còn mãi mãi trong suốt 10 ngàn năm” (theo L. Cadière).

 

Cũng vì quá sâu sát với công trình xây cất “ngôi nhà vĩnh cửu” của mình mà có lần suýt nữa, Gia Long đã thiệt mạng trong một tai nạn ở công trường. Một trận gió làm sập ngôi nhà mà vua đang trú ngụ, vua Gia Long tuy đã ẩn trong một cái hố nhưng vẫn bị thương ở trán, mí mắt và bị dập chân do một thanh xà rơi trúng. Hai hoàng tử thứ bảy và thứ tám là Tấn và Phổ bị trọng thương, nhiều người khác bị chết. Gia Long không trừng phạt các quan lại thi công, ngược lại đã cấp thuốc men để chạy chữa cho họ, cấp phát 500 quan tiền và 500 tiêu chuẩn gạo cho dân làng Định Môn, gần nơi xây dựng lăng.

 

 Lăng tẩm nhà vua nằm trên một quả đồi bằng phẳng rộng lớn. Trước có ngọn Đại Thiên Thọ án ngữ, sau có 7 ngọn núi làm hậu chẩm. Bên trái và bên phải, mỗi bên có 14 ngọn núi là “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”. Tổng thể lăng chia làm 3 khu vực:

Phần chính giữa là khu lăng mộ của vua và bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Qua khỏi sân chầu với các hàng tượng đá uy nghiêm và 7 cấp sân tế là Bửu Thành ở đỉnh đồi. Bên trong Bửu Thành có hai ngôi mộ đá, dạng thạch thất, được song táng theo quan niệm “Càn Khôn hiệp đức” - một hình ảnh đẹp của hạnh phúc và thủy chung.

Bên phải khu lăng là khu vực tẩm điện với điện Minh Thành là trung tâm. Điện Minh Thành được dùng để thờ Hoàng đế và Hoàng hậu thứ nhất. Minh Thành nghĩa là “sự hoàn thiện rực rỡ”. Cũng có một cách giải thích khác là “hoàn thành vào ngày mai”, bởi người ta cho rằng: “Sườn của điện này chưa có sơn son thếp vàng và chạm khắc còn đơn giản” (theo L. Cadière). Bên trong điện Minh Thành, ngày trước có thờ nhiều kỷ vật gắn bó với cuộc đời chinh chiến của vua Gia Long như cân đai, mũ, yên ngựa.

Bên trái khu lăng là Bi Đình, nay chỉ còn một tấm bia lớn ghi bài văn bia “Thánh đức thần công” của vua Minh Mạng ca ngợi vua cha, được chạm khắc tinh tế và sắc sảo.

Men theo các lối đi giữa những đám cỏ và hoa rừng, du khách thả bước dưới bóng thông tươi mát để sang thăm các lăng phụ cận. Đáng lưu ý nhất là lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, nằm trong một vị thế u tịch mà sâu lắng. Điện Gia Thành ở đó cũng là một công trình kiến trúc được xây dựng theo mô thức của điện Minh Thành, dùng để thờ người phụ nữ đã sinh ra vị vua có tài nhất của triều Nguyễn - vua Minh Mạng.

 

Đến thăm lăng Gia Long, du khách có thể đi thuyền theo sông Hương khoảng 18km rồi cập bến lăng; hay đi đường bộ chừng 16km rồi qua bến đò Kim Ngọc, đi thêm vài cây số đường rừng thì bắt gặp hai Trụ biểu uy nghi nằm ngoài cùng. Trước đây, đó là những cột báo hiệu, nhắc nhở mọi người phải kính cẩn khi đi qua khu vực này và có đến 85 cột như vậy trong quần thể lăng Gia Long. Năm 1859 còn 42 cột và hiện nay du khách chỉ trông thấy 2 cột. Mới hay, thời gian và sự thờ ơ của con người có sức tàn phá kinh khủng. Ngày nay, chỉ còn rừng thông xanh làm đường biên cho khu lăng, bởi quanh lăng không có La thành.

 

Theo gợi ý của L. Cadière từ hơn 60 năm trước đây, du khách nên viếng lăng Gia Long vào buổi chiều. Đó là thời khắc có thể ngắm cảnh hoàng hôn đang đến từ phía bên kia các hồ nước. Lấp lánh trong nắng vàng là những bóng thông xào xạc, vi vu đang soi bóng xuống mặt hồ gợn sóng. Chính lúc ấy, du khách mới cảm nhận hết vẻ đẹp hùng tráng và kỳ vĩ của khu lăng này. Phong cảnh xinh tươi hòa với nét uy nghi của đồi núi xa xa. Sự khắc khổ tĩnh lặng của cái chết hòa với sự sinh động, nét tuyệt mỹ của thiên nhiên chung quanh. Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn yên nghỉ trong sự tĩnh lặng tuyệt vời của vũ trụ.

 

Lăng Gia Long là một bức tranh trác tuyệt về sự phối trí giữa thiên nhiên và kiến trúc, trong đó, thiên nhiên là yếu tố chính tạo nên nét hùng vĩ của cảnh quan. Đến thăm lăng, du khách được thả mình trong một không gian tĩnh lặng nhưng đầy chất thơ để suy ngẫm về những thành bại của cuộc đời mình cũng như vinh nhục của ông vua đầu triều Nguyễn.

 

Qua những hoạt động này đã giúp các em học sinh nhận thức sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các di tích lịch sử, văn hóa Huế để thêm tự hào về vẻ đẹp của thắng cảnh và văn hóa quê hương Thừa Thiên Huế.


NHỮNG HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA















Số lượt xem : 157

Chưa có bình luận nào cho bài viết này



Các tin khác